CMD là cửa sổ dòng lệnh trong Windows. Nó mang lại những tiện ích như một hệ điều hành. Và bạn có thể coi nó như một hệ điều hành đơn nhiệm cũng được. Vậy tại sao chúng ta lại phải tìm hiểu phần này khi mà mọi thứ đã có trong Windows và thậm chí bạn còn không biết nó là gì. Phần này dành cho những người yêu thích máy tính, muốn tìm hiểu thêm một số tính năng mới mà Windows không thể làm được hoặc làm được nhưng khó khăn và phức tạp hơn. Phần này khó nên mình sẽ không thích hợp hết vào một bài viết mà chia ra nhiều phần khác nhau.
Phần này chúng ta sẽ học về lệnh dir
Đầu tiên chúng ta sẽ khởi động cmd. Đối với cmd thì có rất nhiều cách khởi động nó qua nhiều phiên bản hệ điều hành. Ở đây mình hướng dẫn các bạn khởi động theo 2 cách mà có thể làm được từ phiên bản XP đến Windows 10.
Như ở phần trước thì chúng ta đã học lệnh nhảy con trỏ cd. Nhưng vấn đề là nếu với ổ đĩa E: của một người hoàn toàn xa lạ hoặc của chính bạn mà có quá nhiều thư mục, thì làm sao chúng ta nhớ tên thư mục để nhảy tới. Vì thế cmd cung cấp cho chúng ta lệnh dir để hiển thị các thư mục và tập tin trong thư mục chỉ định nào đó.
Những lệnh cơ bản trong cmd (Phần 1) Cú pháp: dir <đường dẫn> Giải thích: Liệt kê tất cả tên file và thư mục trong đường dẫn được chỉ định. Lưu ý: Nếu muốn liệt kê tên file và folder trong thư mục hiện hành thì chỉ cần nhập dir mà không cần nhập đường dẫn. Ví dụ: Hai lệnh dir d:\ và dir cho kết quả hoàn toàn giống nhau vì con trỏ đang nằm ở D:
Rõ ràng nếu ta chỉ muốn xem trong thư mục có những gì mà nó hiện cả thông tin ngày giờ tạo thậm chí cả dung lượng nếu có file như thế này thì khá rối và phức tạp.
Vì thế chúng ta sẽ có thêm tham số với lệnh dir này để chỉ hiển thị tên và đường dẫn thôi.
Cú pháp: dir <đường dẫn> /b
Giải thích: tham số /b sẽ giúp ta hiển thị chỉ tên file và tên thư mục thôi ngoài ra không hiển thị thêm gì nữa.
Lưu ý: b là từ viết tắt của base.
Ví dụ:
Khi hiển thị một danh sách dài mà không hiện thông tin gì thêm thì sao ta phân biệt dược đâu là tên file đâu là tên thư mục. Tên file luôn luôn có phần mở rộng, tên thư mục không có.
Nhưng tham vọng của chúng ta đâu dừng lại ở đó đúng không?
Chúng ta muốn liệt kê tất cả tên file, tên thư mục con của thư mục chỉ định nữa cơ. Vậy thì ta phải làm thế nào. Nhiều lúc ta thấy ta tham quá.
Cú pháp: dir <đường dẫn> /s
Giải thích: Hiện tất cả thư mục và file trong đường dẫn chỉ định bao gồm tất cả các cấp thư mục con của nó.
Lưu ý: mình cũng không biết s là chữ viết tắt của từ nào nhưng đoán có thể là subdirectories.
Ví dụ:
Câu lệnh trên dir "D:\temps\ /s /b" mình đã thêm cả tham số /b vào để nó hiển thị gọn gàng hơn. Như vậy các bạn có thể dùng nhiều tham số kết hợp để có kết quả như mong muốn.
Nếu các bạn muốn khám phá thêm một tính năng thú vị khác của câu lệnh này thì mục này chúng ta sẽ nói về nó.
Chúng ta có thể xuất danh sách các file và thư mục vào một file text để lưu trữ, để xem, hoặc để làm data cho một ứng dụng nào đó...
Cú pháp: dir <đường dẫn> [các tham số] > [đường dẫn lưu file]
Giải thích: Với lệnh này thì mọi tham số đều có tác dụng như lệnh dir bình thường nhưng kết quả không hiển thị ra màn hình cmd nữa mà được lưu vào một file chỉ định.
Ví dụ:
Đây là lệnh chạy:
Còn đây là kết quả:
Như vậy với câu lệnh trên: dir "D:\temps /s /b >C:\list.txt" sẽ xuất tên tất cả thư mục và file ra một file có tên list.txt nằm trên ổ C. Khi file này chưa có sẵn nó sẽ được tạo ra, khi file này đã có sẵn nó sẽ bị ghi đè.
Phần về câu lện dir đã kết thúc phần này. Câu lệnh này không chỉ dừng lại ở đó, nó còn nhiều tùy chọn và thông số nâng cao. Nhưng ở mức cơ bản mình chỉ giới thiệu với các bạn những phần đó thôi. Nếu cần tìm hiểu thêm về câu lệnh này các bạn có thể theo đường dẫn mình cung cấp bên dưới. Cảm ơn các bạn đã ghé qua blog của mình.
CMD là cửa sổ dòng lệnh trong Windows. Nó mang lại những tiện ích như một hệ điều hành. Và bạn có thể coi nó như một hệ điều hành đơn nhiệm cũng được. Vậy tại sao chúng ta lại phải tìm hiểu phần này khi mà mọi thứ đã có trong Windows và thậm chí bạn còn không biết nó là gì. Phần này dành cho những người yêu thích máy tính, muốn tìm hiểu thêm một số tính năng mới mà Windows không thể làm được hoặc làm được nhưng khó khăn và phức tạp hơn. Phần này khó nên mình sẽ không thích hợp hết vào một bài viết mà chia ra nhiều phần khác nhau.
Phần này chúng ta sẽ học cách khởi động cmd và một số lệnh để duyệt thư mục trong cmd.
Đầu tiên chúng ta sẽ khởi động cmd. Đối với cmd thì có rất nhiều cách khởi động nó qua nhiều phiên bản hệ điều hành. Ở đây mình hướng dẫn các bạn khởi động theo 2 cách mà có thể làm được từ phiên bản XP đến Windows 10.
Cách 1: Nhấn tổ hợp phím Windows + R gõ vào cửa sổ hiện ra lệnh cmd và nhấn Enter.
Khi nhấn Enter xong thì một cửa sổ hiện ra như thế này. Chúng ta sẽ thấy xuất hiện cửa sổ nền đen chữ trắng như sau:
Bạn gõ vào đó lệnh systeminfo => nhấn Enter nó sẽ hiện ra một loạt các thông tin phần cứng máy tính và hệ điều hành.Đây là các thông tin cơ bản trên máy tính của bạn.
Chúng ta đi quua một số lệnh trong cmd. Ở đây mình dùng Windows 10 nhưng ở các hệ điều hành khác sẽ tương tự vậy thôi chứ không có gì khác ở những lệnh cơ bản này đâu nên các bạn không cần phải lo đến tương thích hệ điều hành.
Lệnh nhảy con trỏ hay chuyển con trỏ hay nhảy thư mục gì cũng vậy. Cú pháp như sau:
cd <"Đường dẫn">
Các bạn lưu ý một điều sau này tất cả các câu lện có chứa đường dẫn, tên file, hoặc tên thư mục các bạn để trong ngoặc kép nhé. Để tránh xảy ra những lỗi ngoài ý muốn.
Ví dụ: cd C:\Windows
Câu lệnh trên sẽ đưa bạn vào thư mục Windows trên ổ C. Kết quả sau khi thực hiện câu lệnh.
Câu lệnh cd còn có một vài cách dùng nhanh khác trong một số trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn bạn đang ở đường dẫn C:\Users\laimi\Desktop và bạn muốn quay lại đường dẫn C:\Users\laimin thì bạn phải gõ lệnh "cd C:\Users\laimi" để quay về. Lệnh cd cung cấp một cách dễ dàng hơn để làm điều này.
Cú pháp: cd..
Giải thích: Kết quả câu lệnh sẽ như thế này:
Vẫn còn một trường hợp nữa cũng tương tự như vậy ở con trỏ ở đường dẫn trên bạn muốn nó về thẳng thư mục gốc nghĩa là ổ C. Câu lệnh cd cũng cho phép bạn nhảy nhanh bất cứ vị trí nào về thư mục gốc ngay lập tức với cú pháp lênh như sau:
Cú pháp: cd\
Giải thích: Đưa thẳng con trỏ về thư mục gốc
Lưu ý: Khi nhảy ổ đĩa ta không có gõ lệnh cd. Ở bất kì vị trí nào của con trỏ ta gõ lệnh <tên ổ đĩa:>
Ví dụ: e: sẽ con trỏ sẽ nhảy về ổ e
Như vậy lệnh cd sẽ cho chúng ta ba cách thức để di chuyển con trỏ qua các thư mục trên ổ đĩa của máy tính theo từng trường hợp cụ thể.
Lệnh dọn dẹp nội dung hiển thị trên màn hình.
Cú pháp: cls
Chú thích: Lệnh này cho phép bạn dọn dẹp mọi nội dung hiển thị trên màn hình để đỡ rối mắt khi đã chạy nhiều lệnh hoặc chạy một lệnh nào đó mà nội dung hiển thị rất nhiều.
Trước:
Và sau khi chạy lệnh:
Lưu ý nhỏ: Lệnh cd còn được viết là chdir
Nghĩa là "cd C:\Windows\system32" và "chdir C:\Windows\system32" đều cho kết quả giống nhau là chuyển con trỏ chuột tới thư mục system32.
Chúng ta kết thúc phần 1 ở đây nhỉ. Bắt đầu thì nhiêu đó thôi chứ không thì quá tải mất. Phần 2 sẽ ra sớm thôi. Bữa nay là mùng 4 tết tức 11/02 nghĩa là sắp đến valentine rồi mà ngồi đây viết mấy cái này thì cũng xác định là FA rồi :((
Chào các bạn! Bạn thường sử dụng máy tính có kết nối mạng, khi bạn đăng ký một mạng internet nào đó điều đầu tiên các bạn quan tâm là tìm gói cước mà tốc độ cao nhất trong mức chi phí các bạn chấp nhận được. Khi sử dụng cáp đồng các bạn có thể thấy tốc độ rất khủng là 3Mb/s, 6Mb/s, 8Mb/s; Còn với cáp quang thì là 12Mb/s, 20Mb/s thậm chí có thể lên đến 80Mb/s nhưng khi đăng ký và dùng thì lại chỉ có khoảng 400KB/s - khoảng 850KB/s. Có khi nào nhà mạng nó lừa mình không. Khi quảng cáo về các chuẩn Sata II 3Gb/s, và Sata III là 6Gb/s nhưng thực tế mua ổ cứng về kể cả ổ cứng SSD tốc độ sẽ không thể đạt được 1GB/s, cao lắm là khoảng 200-400MB/s. Vậy thì có cái gì không ổn giữa quảng cáo và thực tế. Ta luôn biết là quảng cáo và thực tế là khác nhau nhưng không thể chấp nhận cái kiểu khác nhau nhiều đến vậy, không ai quản lý hay sao mà để mấy nhà sản xuất, mấy nhà cung cấp dịch vụ mặc sức trêu đùa người dùng như vây.
Bạn có để ý mình đã ghi 2 cách giống nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau không? Mb/s và MB/s.
Bạn thấy rồi đúng không? b và B chỉ khác nhau nhiêu đó thôi là một khoảng cách xa rồi và xa đến như thế nào thì mời bạn đọc tiếp.
Mb và MB, Gb và GB khác nhau như thế nào? Nó khác nhau ở cách tính và tên hoàn toàn khác nhau.
Mb = Mega bit
MB = Mega byte
Đầu tiên chúng ta nói về đơn vị tính toán nhỏ nhất trong máy tính gọi là bit. Theo đơn vị bit thì ta có cách tính như sau.
1Kb = 1000bit
1Mb = 1000Kb
1Gb = 1000Mb
Vậy còn MB và GB thì sao? Nó vẫn sử dụng đơn vị tính toán nhỏ nhất trong máy tính là bit để tính tốc độ nhưng cách đổi có khác chút.
1byte = 8bit
1KB = 1024byte
1MB = 1024KB
Đơn vị chúng ta dùng đo dung lượng trong máy tính là MB, GB không phải Mb hay Gb
À, vậy là giờ chúng ta đã có cách đổi từ Mb/s sang MB hoặc KB rồi. Cách đổi như sau lấy ví dụ tốc độ nhà mạng là 8Mb/s:
Bước 1: Đổi Mb sang bit lấy đơn vị tiêu chuẩn của đo lường trong máy tính để đổi thành MB.
8Mb = 8 x 1000 = 8000Kb
8000Kb x 1000 = 8000.000bit (1)
Bước 2: Đổi từ bit sang MB từ kết quả lấy được ở bước 1 (1)
8000.000bit : 8 = 1000.000byte
1000.000byte/1024 = 976,56KB
Nghĩa là tốc độ 8Mb/s của nhà mạng chỉ chưa bằng 1MB theo cách tính trên máy tính hoặc phần mềm Internet Download Manager.
UEFI (Unified Extensible
Firmware Interface) được phát triển bởi Intel để giải quết những yếu điểm của
BIOS cũng như sẽ thay thế dần chuẩn BIOS cũ kỹ, già cỗi. Tất nhiên nó sẽ
mạnh mẽ hơn so với BIOS rất nhiều và thực sự có ích với các công việc như
Overclock.
Khái niệm về BIOS?
Các bạn
thường xuyên nghe đến cụm từ BIOS nhưng không biết nó là gì? Và không biết cách
truy cập vào nó ra làm sao? Bài viết này sẽ hướng dẫn cho các bạn truy cập vào BIOSở các dòng máy tính như DELL, SONY VAIO, ACER, LENOVO, ASUS…. và
các dòng máy thông dụng hiện nay.
BIOS
là gì?
BIOS là viết tắt của từ Basic
Input/Output System hay còn gọi là hệ thống đầu vào/ra cơ bản. BIOS
là một nhóm lệnh được lưu trữ trên một chip firmware nằm ở trên
bo mạch chủ (mainboard) của máy vi tính. Nhiệm vụ của BIOS là kiểm
soát các tính năng cơ bản của máy vi tính mà chúng ta ít khi để ý tới ví
dụ như:
+ Kết nối và chạy trình điều khiển (driver) cho các thiết bị ngoại
vi như chuột, bàn phím, usb…
+ Đọc thứ tự ổ cứng để khởi động các hệ điều hành, hiển thị tín hiệu lên màn
hình…
+ Sử dụng BIOS bạn có thể thực hiện được các việc như: thay đổi thứ tự ổ
đĩa khi khởi động, theo dõi nhiệt độ, tốc độ quạt, ép xung, khóa máy…
=> Nói
tóm lại, khi máy vi tính khởi động, nhiệm vụ của BIOS là “đánh
thức” từng linh kiện và kiểm tra xem linh kiện này có hoạt động hay không. Sau
đó, BIOS sẽ chuyển nhiệm vụ kiểm soát lại cho hệ điều hành.
BIOS
Mỗi hãng
lại có một giao diện khác nhau nhưng chức năng thì đều như nhau cả, chỉ khác
chỗ sắp xếp vị trí. Một số bạn mới sử dụng máy tính rất sợ tiếp xúc với máy
tính, tuy nhiên không có gì là quá phức tạp cả. Chịu khó vọc thì sẽ biết hết thôi.
So sánh ưu điểm vượt trội của UEFI và BIOS
BIOS
UEFI
Chỉ hạn chế xử lí ở mức 16-bit và
địa chỉ hóa bộ nhớ là 1MB
Có chức năng xử lí 32-bit và
64-bit và cho phép người dùng sử dụng nhiều RAM hơn để địa chỉ hóa xử lí
nhiều việc phức tạp hơn. Hơn nữa UEFI được thiết kết với cấu trúc
riêng biệt và dùng cấp driver cho các bộ phận một cách độc lập .
MBR giới hạn 4 phân vùng chính cho
mỗi ổ đĩa và kích thước đĩa có thể khởi động chỉ đạt ở mức 2.2TB
UEFI dùng bảng phân vùng GUID và
sử dụng Globally Unique ID để địa chỉ những phân vùng và cho phép khởi
động ổ cứng lên tới 9.4 Zb.
Ngoài ra, UEFI còn
cho phép nhiều lựa chọn khởi động , không quy định hệ thống file cụ thể và có
khả năng khởi động cực nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với chuẩn cũ BIOS.
UEFI vẫn tiếp tục
hỗ trợ những phần mở rộng cũ ví dụ như ACPI nhưng không phụ thuộc
vào môi trường 16-bit. Nếu như trước đây nếu xảy ra lỗi như lỏng RAM thì
BIOS sẽ phát ra tiếng kêu bíp thì thay vào đó trên chuẩn mới những phần mở rộng
trong UEFI có thể kiểm tra các bộ phận tốt hơn.
UEFI là chẩn mới đang dần thay thế cho chuẩn cũ
Lagacy và chỉ hỗ trợ cho các phiên bản Windows 64-bit. Ở bài viết này mình sẽ
hướng dẫn chi tiết cho các bạn 4 cách để xem máy tính của bạn đang khởi động và
sử dụng chuẩn nào (UEFI hay Lagacy?).
Hướng dẫn xem máy tính đang sử dụng chuẩn UEFI hay Lagacy
Cách 1: Mở hộp thoại Run gõ lệnh <msinfo32> Enter (Quy ước sau này các lệnh gõ không
có dấu <> chỉ có nội dung bên trong thôi)
Tại đây bạn có thể kéo
xuống và tìm đến phần BIOS Mode để xem máy tính của bạn đang khởi động ở chuẩn
nào. Ví dụ như trong hình máy tính của mình đang chạy theo chuẩn UEFI.
Cách 2: Mở hộp thoại Run >
gõ lệnh <diskpart > Enter.
Cửa
sổ Diskpart hiện lên bạn tiếp tục gõ lệnh list diskvà nhấn Enter.
Tại đây sẽ hiển thị tất cả các danh sách ổ cứng ví dụ như bạn có nhiều hơn 1 ổ
cứng, hay bạn đang kết nối USB hay ổ cứng rời với máy tính thì cũng được liệt
kê tại đây. Tại đây mình chỉ quan tâm tới ổ cứng mà bạn muốn xem, để biết được
chính xác ổ cứng nào bạn đang muốn xem nó đang ở chuẩn gì thì nhìn vào
“Size” của ổ cứng đó nhé.
Các bạn để ý cột “Gpt”,
nếu như dòng tên ổ cứng nào ở cột Gpt có dấu * thì tức là ổ cứng đó đang chạy
theo chuẩn GPT, nếu không có dấu * thì là chuẩn MBR.
Nếu sử dụng chuẩn UEFI > thì bạn cần phải
định dạng ổ cứng là GPT
Nếu sử dụng chuẩn Lagacy > thì bạn cần
phải định dạng ổ cứng là MBR
Chúng ta đang kiểm tra
trực tiếp trên Windows nên bạn có thể khẳng định được là máy tính của bạn đang
chạy theo chuẩn UEFI vì ổ cứng đang ở định dạng GPT.
Cách 3: Sử dụng MiniTool
Partition Wizard
Cách này cũng rất hay và
mình thấy tiện nhất sử dụng để kiểm tra trong mọi trường hợp. Ngay cả khi bạn
không khởi động vào được Windows thì cách này vẫn là nhanh gọn lẹ nhất. Nếu như
bạn đã có một chiếc usb
bootthì chỉ cần vào Mini Windows để kiểm tra nhanh
chóng vì đã có phần mềm Partition Wizard tích hợp sẵn trong đó.
Nếu như bạn vẫn đang vào
Windows bình thường thì có thể tải Partition Wizard
và kiểm tra trực tiếp trên Windows bằng cách sau:
Nhấn chuột phải vào ổ
cứng Basic
Tiếp theo bạn để ý đến
dòng:
·Convert MBR Disk to GPT
Disk – Chuyển từ định dạng MBR sang GPT
·Convert GPT Disk to MBR
Disk – Chuyển từ định dạng GPT sang MBR
Tại đây mình đang thấy
dòng “Convert GPT Disk to MBR Disk” sáng lên tức là ổ cứng của bạn đang ở định
dạng GPT tức là chuẩn UEFI.
Với cách này bạn không
những xem được ổ cứng đang ở định dạng nào mà có thể chuyển về định dạng mà
mình muốn nhanh chóng
Cách kiểm tra xem máy tính có hỗ trợ UEFI không
Cách 1: Sử dụng phần mềm HWiNFO
Đầu tiên bạn tải phần
mềm HWiNFO tại đây/ Link từ trang chủ
P/s: Bạn chọn phiên bản
phù hợp với phiên bản Windows bạn đang sử dụng nhé. Và nên tải bản Portable để
không phải cài đặt khi sử dụng.
Tiếp theo bạn mở phần
mềm lên để kiểm tra, tại giao diện chính của chương trình bạn nhìn xuống dòng
UEFI BOOT nếu nó là “Present” thì máy bạn hỗ trợ UEFI còn nếu như là Not
Present thì bạn xem tiếp.
Bạn nhấn vào
“Motherboard” và kéo xuống xem tại dòng UEFI BIOS, nếu vẫn là Not
Present thì xin chia buồn, máy tính của bạn không hỗ trợ UEFI mà chỉ chỗ
trợ chuẩn BIOS mà thôi.
Như của mình hiện lên
Capable như thế này tức là đã hỗ trợ chuẩn UEFI rồi đó.
Cách 2: Kiểm tra trong BIOS
Bạn vào trong Bios và
tìm xem nếu có từ nào liên quan đến UEFI hoặc hỗ trợ “Securiry boot”
thì chắc chắn máy tính đó sẽ hỗ trợ chuẩn UEFI.
Thiết lập trong BIOS để chuyển từ Legacy sang UEFI
Nếu như bạn có ý định
chuyển đổi từ chuẩn Lagacy sang sử dụng UEFI thì bạn cần phải thực hiện bước
này:
·Tắt chế độ Secure Boot.
·Chuyển chế độ Lagacy
sang UEFI.
·Load Lagacy Option Rom
bạn chọn ”Enabled”
Trong bài này mình đã
giới thiệu khá đầy đủ về chuẩn UEFI, hi vọng sau khi đọc xong bài viết này
bạn sẽ hiểu hơn về chuẩn UEFI cũng như xác định được máy tính bạn đang boot ở
chuẩn nào, hay xem máy tính của bạn có hỗ trợ UEFI không?
Cái này mới hoàn toàn đối với mình mặc dù nó đã ra lâu rồi. Hôm nay khi cài Windows 10 và bị báo lỗi này mình mới bắt đầu tìm hiểu nó. Đây là những gì mình đọc được trên mạng và lược bỏ bớt những gì không còn phù hợp.
UEFI là gì ?Những điều cần biết về UEFI thay thế cho BIOS
có bao giờ bạn nghe đến UEFI chưa? các máy tính laptop mới bây giờ khởi động rất nhanh là do đâu?
Chúng ta cùng tìm hiểu sâu hơn về nó nào
Trong khi hầu hết mọi người đều có thể làm quen vớiBIOS của máy tính nhưng họ có thể không biết nó là gì hoặc nó làm những gì.
Tuy nhiên hiện nay UEFI đang chiếm chỗ củaBIOS vì thế chúng ta cũng cần hiểu về những gì đang diễn ra của hai công nghệ này .
BIOS là phần mềm ở mức thấp, rất quan trong bên trong một con Chip đặt trên Motherboard (Main board). Khi máy tính khởi động, nhiệm vụ của BIOS là “đánh thức” những bộ phận khác nhau và bảo đảm chúng làm việc đúng chức năng nhiệm vụ của mình sau đó tải phần Boot Loader của hệ điều hành.
Cách đây rất lâu, máy tính đã dùng những cách khác nhau để làm việc này nhưng theo thời gian IBM 5150 đã trở thành chuẩn để làm cơ sở tương thích với phần cứng. Nó dùng bộ vi xử lí Intel 8088 16-bit và BIOS 16-bit cho phép không gian địa chỉ 1MB. Nó cũng dùng MBR (Master Boot Record) để xác định bảng phân vùng của máy tính để nói cho BIOS biết hệ điều hành nằm ở đâu.
POST là một quy trình của BIOS với công việc tự động kiểm tra khi bật nguồn để kiểm tra tính hợp lệ và nhiệm vụ chính xác của những bộ phận bên trong máy tính Nếu có một cái gì đó bị sai, bạn sẽ thấy thông báo lỗi trên màn hình hoặc nghe thấy những tiếng bíp tương ứng với các bộ phận bị hỏng.
Bạn cũng có thể nghe thấy từ CMOS. Đó là bộ nhớ cần Pin để lưu trữ các thông tin bên trong liên quan sử dụng với BIOS. Tuy nhiên hiện nay những Motherboard không còn dùng công nghệ CMOS nữa mà thay vào đó là bộ nhớ Flash (EEPROM).
Tất cả đó là những hệ thống tốt. Nó cung cấp giao diện để bạn có thể kích hoạt hoặc vô hiệu hóa một số bộ phận riêng biệt và kèm theo những sự lựa chọn tùy biến khác. Tuy nhiên cùng với sự thay đổi BIOS đã trở nên cũ kĩ khi so sánh với những phần cứng mới hơn và cần thiết có sự thay đổi để theo kịp với xu hướng phát triển. Ví dụ điển hình đó là ACPI (Advanced Configuration and Power Interface) cùng với những tính năng quản lí nguồn tiên tiến đã không còn phù hợp với những hạn chế trong các hệ thống mới.
UEFI được viết tắt từ Unified Extensible Firmware Interface, do Intel phát triển để giải quyết những hạn chế của BIOS khi sử dụng trong những máy chủ Itanium 64-bit. Theo thời gian nó được đổi tên từ ban đầu là Intel Boot Initiative, UEFI đã mang lại một số sự thay đổi lớn trong môi trường trước khởi động (Pre-Boot).
Nhiều công việc của UEFI cũng tương tự như BIOS truyền thống, nhưng một số tùy biến khác được sắp xếp theo những hình ảnh cơ bản. Chúng thực sự có ích với các công việc như Overclock.
Bạn có thể thấy nó dễ dàng để dùng với những khả năng linh hoạt kèm theo Mouse và có nhiều tiềm năng
16-bit với 32-bit
BIOS chỉ hạn chế xử lí 16-bit và địa chỉ hóa bộ nhớ 1MB thì UEFI có chức năng 32-bit và 64-bit cho phép dùng nhiều RAM hơn để địa chỉ hóa xử lí nhiều việc phức tạp hơn. Nó cũng có cấu trúc riêng biệt và dùng cấp driver cho các bộ phận một cách độc lập.
Khởi động
MBR giới hạn 4 phân vùng chính cho mỗi đĩa và kích thước đĩa có thể khởi động chỉ đạt 2.2TB. UEFI dùng Bảng phân vùng GUID, dùng Globally Unique ID để địa chỉ những phân vùng và cho phép khởi động ổ cứng lên tới 9.4 ZB.
TeraByte = 1024GB , ZetaByte = 1024x1024x1024 GB.
Lợi ích của nó chưa dừng lại, UEFI cho phép nhiều lựa chọn khởi động, không quy định hệ thống file cụ thể và có khả năng khởi động mạng tuyệt vời. Những Boot Loader của hệ điều hành cũng có thể được phục vụ như là những phần mở rộng của UEFI.
Những phần mở rộng
UEFI vẫn hỗ trợ những phần mở rộng cũ như ACPI nhưng không phụ thuộc chạy trong môi trường 16-bit. Những tiếng bíp báo lỗi cũng quá cũ kĩ và những phần mở rộng trong UEFI có thể kiểm tra các bộ phận tốt hơn. Bên cạnh đó những phân vùng hỗ trợ UEFI trên ổ đĩa cứng được các nhà sản xuất có thể dùng thêm nhiều chức năng. Ví dụ hệ điều hành Instant-On Splashtop của Asus.
UEFI còn cung cấp thời gian khởi động tốt hơn so với BIOS.